Mái Ấm Thiên Thượng, Gia Đình Vĩnh Cửu
CHỦ TỊCH THOMAS S. MONSON
Đệ Nhất Cố Vấn trong Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn
Xây Dựng một Căn Nhà Vĩnh Cửu
Với tinh thần khiêm tốn, tôi xin đại diện Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn với tư cách là người nói chuyệt kết thúc cho buổi họp này. Chúng ta đã được soi dẫn và gầy dựng bởi những lời nhận xét của Anh Cả Bednar, Anh Cả Perry và Chị Parkin. Những ý nghĩ của chúng ta đã tập trung vào mái ấm và gia đình khi chúng ta được nhắc nhở rằng “mái ấm là nền tảng của cuộc sống ngay chính, và không có phương tiện nào khác có thể thay thế cũng như làm tròn chức năng thiết yếu của nó.”1
Một mái ấm còn có ý nghĩa hơn một căn nhà được xây cất bằng gỗ, gạch hay đá. Một mái ấm được tạo bằng tình yêu, sự hy sinh và sự tôn trọng. Chúng ta có trách nhiệm đối với mái ấm mà chúng ta xây dựng. Chúng ta phải xây dựng một cách khôn ngoan, bởi vì thời kỳ vĩnh cửu không phải là một thời gian ngắn. Sẽ có yên ổn và sóng gió, ánh nắng và bóng đêm, niềm vui và nỗi buồn. Nhưng nếu chúng ta thật sự cố gắng, thì mái ấm của chúng ta có thể là một chút thiên thượng nơi đây trên thế gian. Những ý nghĩ mà chúng ta có, những hành động mà chúng ta làm, cuộc sống mà chúng ta sống không những ảnh hưởng đến sự thành công của cuộc sống chúng ta trên trần thế mà chúng còn đánh dấu con đường đến các mục tiêu vĩnh cửu của chúng ta.
Một số gia đình Thánh Hữu Ngày Sau gồm có cha, mẹ và con cái, tất cả đều sống ở nhà trong khi những gia đình khác buồn bã chứng kiến cảnh ra đi của một người, rồi đến người khác, rồi một người khác nữa trong số những người trong gia đình họ. Đôi khi gia đình chỉ gồm có một người độc thân. Bất luận phần tử của gia đình là gì đi nữa, thì gia đình vẫn tiếp tục—vì gia đình có thể được vĩnh viễn mãi mãi.
Chúng ta có thể học hỏi từ Đấng Thầy Xây Dựng—chính là Chúa. Ngài đã dạy chúng ta cách thức chúng ta phải xây dựng. Ngài đã phán: “Một nước mà chia xé nhau thì bị phá hoang.” (Ma Thi Ơ 12:25). Về sau, Ngài cảnh cáo: “Này, nhà của ta là một ngôi nhà có trật tự. . . và không phải là một ngôi nhà lộn xộn” (GLGƯ 132:8).
Trong một điều mặc khải được ban qua Tiên Tri Joseph Smith tại Kirtland, Ohio, vào ngày 27 tháng Mười Hai năm 1832, Đức Thầy đã khuyên dạy: “Hãy tự tổ chức; hãy chuẩn bị mọi điều cần thiết; và hãy thiết lập một ngôi nhà, đó là ngôi nhà cầu nguyện, ngôi nhà nhịn ăn, ngôi nhà của đức tin, ngôi nhà của sự học hỏi, ngôi nhà của sự vinh quang, ngôi nhà của sự trật tự, ngôi nhà của Thượng Đế” (GLGƯ 88:119; xin xem thêm 109:8).
Ai trong chúng ta có thể tìm được một bản thiết kế thích hợp hơn mà nhờ đó người ấy có thể xây cất một cách khôn ngoan và thích đáng? Một căn nhà như vậy sẽ tuân theo luật lệ xây cất đã được vạch ra trong Ma Thi Ơ, đó là một căn nhà được xây cất “trên đá” (Ma Thi Ơ 7:24, 25; xin xem thêm Lu Ca 6:48; 3 Nê Phi 14:24, 25), một ngôi nhà có thể chống lại cơn mưa thù địch, lũ lụt chống đối và ngọn gió nghi ngờ hiện diện khắp nơi trên thế gian luôn thay đổi và đầy thử thách của chúng ta.
Một số người có thể hỏi: “Nhưng điều mặc khải đó là nhằm cung ứng sự hướng dẫn cho việc xây cất đền thờ mà. Điều mặc khải đó còn thích hợp ngày nay không?”
Tôi sẽ trả lời: “Sứ Đồ Phao Lô đã chẳng tuyên bố: ‘Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong anh em sao?’ ” (1 Cô Rinh Tô 3:16).
Hãy để cho Chúa làm Đấng Tổng Thầu Khoán cho dự án xây cất của chúng ta. Rồi mỗi người chúng ta có thể là người thầu phụ có trách nhiệm cho một phần thiết yếu của toàn thể dự án. Như vậy, tất cả chúng ta đều là những người xây cất. Ngoài việc xây dựng nhà của mình, chúng ta còn có trách nhiệm để giúp xây đắp vương quốc của Thượng Đế nơi đây trên thế gian bằng cách phục vụ trung tín và hữu hiệu trong những sự kêu gọi của chúng ta trong Giáo Hội. Tôi xin đưa ra những chỉ dẫn từ Thượng Đế, các bài học từ cuộc sống và những điểm để suy ngẫm khi chúng ta bắt đầu xây cất.
Quỳ Xuống Cầu Nguyện
“Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê Hô Va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con; Phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con” (Châm Ngôn 3:5–6). Sa Lô Môn, con trai của Đa Vít, vua Y Sơ Ra Ên, cũng nói như vậy.
Ở trên lục địa Mỹ Châu này, Gia Cốp, em trai của Nê Phi, đã nói: “Hãy hướng về Thượng Đế với một tinh thần cương quyết, và hãy cầu nguyện lên Ngài với một đức tin nhiệt thành” (Gia Cốp 3:1).
Lời khuyên dạy này đã được Chúa soi dẫn và đến với chúng ta ngày nay như nước trong vắt đối với một trái đất khô nẻ. Chúng ta sống trong thời kỳ rối ren.
Chỉ cách đây một vài thế hệ ngắn, một người không thể tưởng tượng ra nổi thế gian mà chúng ta hiện đang sống và những vấn đề mà thế gian có. Chúng ta bị bao quanh bởi sự đồi bại, hình ảnh sách báo khiêu dâm, bạo động, ma túy và vô số điều xấu khác mà làm khổ sở cho xã hội hiện đại ngày nay. Thử thách của chúng ta là thử thách, còn là trách nhiệm, không những giữ mình “khỏi tì vết của thế gian” (Gia Cơ 1:27) mà còn hướng dẫn con cái của chúng ta và những người khác mà chúng ta có trách nhiệm để an toàn vượt qua biển đầy sóng gió tội lỗi bao quanh tất cả chúng ta, để một ngày nào đó chúng ta có thể trở về sống với Cha Thiên Thượng.
Sự dạy dỗ gia đình của chúng ta đòi hỏi sự hiện diện, thời giờ và các nỗ lực tốt nhất của chúng ta. Để được hữu hiệu trong sự dạy dỗ của mình, chúng ta phải dũng cảm trong tấm gương của mình đối với những người trong gia đình và dành sẵn thời giờ riêng rẽ với mỗi người trong gia đình, cũng như thời giờ cho việc khuyên dạy và hướng dẫn.
Chúng ta thường cảm thấy bị tràn ngập bởi nhiệm vụ truớc mắt chúng ta. Tuy nhiên, sự giúp đỡ luôn luôn có sẵn. Ngài là Đấng biết mỗi con cái của Ngài sẽ đáp ứng lời cầu nguyện khẩn thiết và chân thành khi chúng ta tìm kiếm sự giúp đỡ trong việc hướng dẫn họ. Sự cầu nguyện như vậy sẽ giải quyết nhiều vấn đề hơn, giảm bớt nỗi đau khổ hơn, ngăn ngừa sự phạm giới hơn, và mang đến sự bình an lớn lao và sự mãn nguyện trong tâm hồn con người mà không thể đạt được trong bất cứ cách nào khác.
Ngoài việc cần sự hướng dẫn như thế cho gia đình mình, chúng ta còn được kêu gọi vào những chức vụ mà chúng ta có trách nhiệm đối với những người khác. Với tư cách là giám trợ hay cố vấn, với tư cách là người lãnh đạo nhóm túc số chức tư tế hoặc người lãnh đạo tổ chức bổ trợ, các anh chị em có cơ hội để tạo ra sự khác biệt trong cuộc sống của những người khác. Có thể có những người đến từ các gia đình mà chỉ có một số người trong gia đình là tín hữu hoặc các gia đình kém tích cực; một số có lẽ đã xây bỏ khỏi cha mẹ mình, bất chấp những lời khẩn nài và khuyên dạy của họ. Chúng ta có thể là khí cụ trong tay của Chúa để tạo ra sự khác biệt trong cuộc sống của một người nằm trong hoàn cảnh như vậy. Tuy nhiên, nếu không có sự hướng dẫn của Cha Thiên Thượng, thì chúng ta không thể làm tất cả những gì mà chúng ta đã được kêu gọi để làm. Sự giúp đỡ như vậy từ sự cầu nguyện mà ra.
Một vị quan tòa nổi tiếng người Mỹ đã được hỏi rằng chúng ta, với tư cách là công dân của các quốc gia trên thế giới, có thể làm điều gì để giảm bớt tội ác và sự bất phục tùng luật pháp để mang lại sự bình an và sự mãn nguyện vào cuộc sống của chúng ta và vào dân tộc của chúng ta. Vị ấy đã thận trọng trả lời: “Tôi đề nghị một sự quay về với việc thực hành cầu nguyện cổ truyền trong gia đình.”
Là con người, chúng ta có biết ơn rằng sự cầu nguyện trong gia đình không phải là một sự thực hành lỗi thời đối với mình không? Có một ý nghĩa thật sự đằng sau câu châm ngôn thường được nhắc đến: “Gia đình mà cầu nguyện chung thì gần gũi nhau.”
Chính Chúa đã chỉ thị rằng chúng ta phải có sự cầu nguyện trong gia đình khi Ngài phán: “Hãy cầu nguyện cùng Đức Chúa Cha trong gia đình các ngươi, luôn luôn trong danh ta, để vợ con các ngươi được phước” (3 Nê Phi 18:21).
Là cha mẹ, giảng viên và người lãnh đạo trong bất cứ khả năng nào, chúng ta không thể cố gắng trải qua cuộc sống trần thế đầy hiểm nguy này mà không có sự hỗ trợ của thiên thượng để giúp chúng ta trong việc hướng dẫn những người mà chúng ta có trách nhiệm.
Khi chúng ta dâng lên Thượng Đế những lời cầu nguyện chung với gia đình mình và những lời cầu nguyện riêng cá nhân, thì chúng ta hãy làm như vậy với đức tin và sự tin cậy nơi Ngài. Hãy quỳ xuống cầu nguyện.
Hãy chấp nhận phục vụ.
Để có được tấm gương, chúng ta quay trở lại với cuộc sống của Chúa. Cuộc sống của Chúa Giê Su giống như một ánh sáng rực rỡ về lòng nhân từ khi Ngài phục sự ở giữa dân chúng. Ngài đã mang sức mạnh đến cho chân tay của người què, cho mắt của người mù thấy được, cho người điếc nghe được và sự sống cho thân thể của người chết.
Các chuyện ngụ ngôn của Ngài cho thấy quyền năng của Ngài. Với câu chuyện về người Sa Ma Ri nhân lành, Ngài đã dạy: “Hãy yêu thương kẻ lân cận ngươi” (xin xem Lu Ca 10:30–35). Qua lòng nhân từ của Ngài đối với người đàn bà bị bắt về tội ngoại tình, Ngài đã dạy về sự thông cảm đầy trắc ẩn (xin xem Giăng 8:3–11). Trong chuyện ngụ ngôn của Ngài về đồng ta lâng, Ngài đã dạy cho chúng ta biết tự cải tiến và cố gắng đạt được sự toàn hảo (xin xem Ma Thi Ơ 25:14–30). Ngài đã chuẩn bị cho chúng ta chu đáo biết bao về vai trò của chúng ta trong việc xây đắp một gia đình vĩnh cửu.
Mỗi người chúng ta—dù là một vị lãnh đạo chức tư tế hoặc một chức sắc trong một tổ chức bổ trợ—đều có trách nhiệm đối với sự kêu gọi thiêng liêng của mình. Chúng ta đã được phong nhiệm cho công việc mà chúng ta đã được kêu gọi để làm. Trong Giáo Lý và Giao Ước 107:99, Chúa đã phán: “Vậy nên, giờ đây mọi người phải học hỏi bổn phận của mình, và để siêng năng thi hành nhiệm vụ mình đã được chỉ định.” Khi chúng ta giúp ban phước và củng cố những người mà chúng ta có trách nhiệm trong những sự kêu gọi của mình trong Giáo Hội, thì chúng ta sẽ thật sự ban phước và củng cố gia đình của họ. Như vậy, sự phục vụ mà chúng ta thực hiện trong gia đình mình và trong những sự kêu gọi của mình trong Giáo Hội có thể có những kết quả vĩnh cửu.
Cách đây nhiều năm, với tư cách là giám trợ trong một tiểu giáo khu lớn và đa dạng với hơn một ngàn tín hữu ở khu buôn bán kinh doanh của Thành Phố Salt Lake, tôi đã gặp phải vô số thử thách.
Một buổi trưa Chúa Nhật, tôi nhận được một cú điện thoại từ người chủ tiệm dược phẩm nằm trong vòng ranh giới tiểu giáo khu của chúng tôi. Ông cho biết rằng sáng sớm hôm đó, một thiếu niên đã đến tiệm của ông và đã mua một ly kem từ quầy hàng bán nước uống. Em ấy đã lấy tiền từ một bao thư để trả, và rồi khi bỏ đi, đã quên cái bao thư. Khi người chủ tiệm có dịp xem xét cái bao thư, ông thấy rằng đó là bao thư đựng tiền nhịn ăn với tên và số điện thoại của tiểu giáo khu chúng tôi được in lên trên đó. Khi ông mô tả em thiếu niên đã đến tiệm của mình, tôi lập tức nhận ra em ấy ngay—một thầy trợ tế trẻ từ tiểu giáo khu của chúng tôi thuộc một gia đình kém tích cực.
Phản ứng đầu tiên của tôi là sự sững sờ và thất vọng khi nghĩ rằng bất cứ thầy trợ tế nào của chúng tôi lại lấy ngân quỹ nhịn ăn mà dành cho những người túng thiếu để đi đến cửa tiệm vào ngày Chúa Nhật và mua một món quà vặt với số tiền ấy. Tôi quyết định đi thăm em thiếu niên đó vào buổi trưa ấy để giảng dạy cho em ấy về quỹ thiêng liêng của Giáo Hội và bổn phận của em ấy với tư cách là thầy trợ tế để thu góp và bảo vệ các ngân quỹ đó.
Khi lái xe đến nhà của thầy trợ tế và gia đình của em ấy, tôi đã dâng lên một lời cầu nguyện thầm để có được sự hướng dẫn trong điều mà tôi nên nói để chuẩn bị cho tình thế. Tôi đi đến cửa và gõ. Mẹ của thiếu niên ấy mở cửa và tôi được mời vào phòng khách. Mặc dù căn phòng chỉ vừa đủ sáng, tôi cũng có thể thấy căn phòng nhỏ và tồi tàn biết bao. Một vài đồ đạc trong nhà thật sờn mòn. Chính người mẹ cũng trông xác xơ. Sự phẫn nộ của tôi trước hành động của con trai người ấy vào buổi sáng đó biến mất khỏi ý nghĩ
Sự phẫn nộ của tôi trước hành động của con trai người ấy vào buổi sáng đó biến mất khỏi ý nghĩ của tôi khi tôi nhận thấy rằng nơi đây có một gia đình đang thật sự túng thiếu. Tôi cảm thấy có ấn tượng để hỏi người mẹ xem có còn thức ăn trong nhà không. Người ấy nghẹn ngào thú nhận rằng không còn. Người ấy cho tôi biết rằng chồng của mình đã thất nghiệp trong một thời gian và họ rất cần không những thức ăn mà còn tiền để trả tiền thuê nhà để họ sẽ không bị đuổi ra khỏi căn nhà nhỏ.
Tôi không bao giờ nêu lên vấn đề tặng dữ tiền nhịn ăn vì tôi nhận thấy rằng em thiếu niên đã rất đói khi nó ngừng lại ở cửa tiệm dược phẩm. Trái lại, tôi đã lập tức thu xếp để giúp đỡ gia đình đó, để họ có thể có thức ăn và chỗ để sống. Ngoài ra, với sự giúp đỡ của các vị lãnh đạo chức tư tế trong tiểu giáo khu, chúng tôi đã có thể thu xếp để có công ăn việc làm cho người chồng để người ấy có thể chu cấp cho gia đình mình trong tương lai.
Là những người lãnh đạo chức tư tế và tổ chức bổ trợ, chúng ta được quyền có được Chúa giúp đỡ trong việc làm vinh hiển những sự kêu gọi của mình và làm tròn các trách nhiệm của mình. Hãy tìm kiếm sự giúp đỡ của Ngài, và khi sự soi dẫn đến cùng các anh chị em, thì hãy hành động theo sự soi dẫn đó liên quan đến việc phải đi nơi nào, phải gặp ai, phải nói gì, và nói theo cách nào. Chúng ta có thể luôn luôn nghĩ về một ý tưởng nào đó khác nhưng chỉ khi nào chúng ta hành động theo ý nghĩ đó thì chúng ta mới ban phước cho cuộc sống của con người.
Cầu xin cho chúng ta là những người chăn chân chính của những người mà chúng ta có trách nhiệm. John Milton đã viết bài thơ “Lycidas,” “Chiên đói nhìn lên và không được cho ăn” (hàng 125). Chính Chúa đã phán cùng tiên tri Ê Xê Chi Ên: “Khốn nạn cho kẻ chăn của Y Sơ Ra Ên. . . không cho bầy chiên ăn.” (Ê Xê Chi Ên 34:2–3).
Trách nhiệm của chúng ta là trách nhiệm chăm sóc đàn chiên, vì các con chiên quý báu, những con chiên dịu dàng, được tìm thấy ở khắp nơi—ở nhà trong gia đình mình, ở nhà của bà con thân thuộc của mình, và chờ đợi chúng ta thi hành những sự kêu gọi của chúng ta trong Giáo Hội. Chúa Giê Su là Đấng Gương Mẫu của chúng ta. Ngài đã phán: “Ta là người chăn hiền lành, ta quan chiên ta.” (Giăng 10:14). Chúng ta có trách nhiệm chăn chiên. Cầu xin cho chúng ta chấp nhận phục vụ.
Tìm Đến Cứu Giúp
Trong cuộc sống trần thế, có những nạn nhân. Một số rời khỏi biển ghi tên đường mà dẫn đến cuộc sống vĩnh cửu để rồi chỉ thấy rằng khúc ngoặt đã được chọn thì cuối cùng dẫn đến ngõ cụt. Sự thờ ơ, cẩu thả, ích kỷ và tội lỗi đều gây ra tổn hại cho cuộc sống con người. Có những người, vì những lý do không được giải thích, đã chọn một hướng đi khác trong cuộc sống, và về sau thì biết được rằng họ đã đi theo sự cám dỗ mà chỉ đưa đến nỗi buồn phiền và đau khổ.
Vào năm 1995 Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn nhận thấy có những người đã lạc ra khỏi bầy chiên của Đấng Ky Tô và đã đưa ra một bản tuyên bố đặc biệt có tựa đề là “Một Lời Mời Trở Lại.” Sứ điệp này chứa đựng lời kêu gọi này:
“Đối với các anh chị em vì bất cứ lý do nào đã tự thấy không còn là tín hữu của Giáo Hội nữa, thì chúng tôi xin nói hãy trở lại. Chúng tôi mời các anh chị em trở lại và dự phần hạnh phúc mà các anh chị em đã từng biết. Các anh chị em sẽ thấy có nhiều cánh tay dang ra để chào đón, phụ giúp, và an ủi các anh chị em.
“Giáo Hội cần sức mạnh, tình yêu thương, lòng trung thành và sự tận tâm của các anh chị em. Hướng đi đã được định trước và chắc chắn mà qua đó một người có thể trở lại với các phước lành trọn vẹn của một tín hữu Giáo Hội, và chúng tôi sẵn sàng đón nhận tất cả những người muốn làm như vậy.”
Có lẽ một cảnh thường được lặp lại nhiều lần sẽ mang đến gần hơn cơ hội riêng của các anh chị em để tìm đến cứu giúp. Chúng ta hãy nhìn vào một gia đình với đứa con trai tên là Jack. Trong suốt thời thơ ấu của Jack, nó và cha của nó đã có nhiều cuộc tranh luận rất gay gắt. Một ngày nọ, khi nó 17 tuổi, họ có một cuộc cãi vã kịch liệt đặc biệt. Jack nói với cha của nó: “Con không thể chịu đựng được nữa. Con sẽ bỏ nhà đi và con sẽ không bao giờ trở về nữa!” Nó đi vào phòng mình và sắp xếp hành lý . Mẹ nó nài nỉ nó ở lại nhưng nó quá tức giận và đã không nghe theo. Nó bỏ lại mẹ nó đang khóc ở ngưỡng cửa.
Khi rời sân nhà, nó sắp bước qua cánh cổng thì nó nghe cha của nó kêu nó: “Jack, cha biết rằng việc con bỏ đi phần lớn là lỗi của cha. Cha thật sự lấy làm tiếc về điều này. Cha muốn con biết rằng nếu con có bao giờ muốn trở về nhà thì cứ về. Và cha sẽ cố gắng làm một người cha tốt hơn đối với con. Cha muốn con biết rằng cha thương con và cha luôn luôn thương con.”
Jack không nói gì ngoài việc đi đến trạm xe đò để mua vé đi một nơi xa. Khi nó ngồi trong xe đò nhìn các cây số đường lướt qua thì ý nghĩ của nó quay trở về với những lời của cha nó. Nó bắt đầu nhận thấy rằng biết bao can đảm, biết bao yêu thương đã đòi hỏi cha của nó để nói điều mà ông đã nói. Người cha đã xin lỗi. Ông đã mời nó trở về và đã để cho những lời vang lên trên không trung mùa hè: “Cha thương con.”
Jack biết rằng bây giờ phải đến lượt nó hành động. Nó thấy rằng cách duy nhất mà nó có thể tìm ra sự an tâm với chính mình là cho cha của nó thấy cùng một loại trưởng thành, nhân từ và yêu thương mà Cha nó đã cho nó thấy. Jack đi xuống khỏi xe đò. Nó mua tấm vé trở về và bắt đầu cuộc hành trình về nhà.
Nó về đến nơi không lâu sau nửa đêm, bước vào nhà và vặn đèn lên. Cha nó ngồi nơi cái ghế, đầu cúi xuống. Khi ông nhìn lên và thấy Jack, ông đứng dậy khỏi ghế; họ chạy vội đến ôm nhau. Về sau Jack nói: “Những năm cuối mà tôi ở nhà là những năm hạnh phúc nhất của đời tôi.”
Đây là một người cha mà đã đè nén sự giận dữ và kiềm chế tính kiêu ngạo để tìm đến cứu giúp con trai mình trước khi nó trở thành một người trong số đông người bị lạc đường do kết quả từ gia đình và nhà cửa đổ vỡ. Tình thương là dải băng bó, dầu chữa lành; tình yêu thương đã được cảm nhận rất thường xuyên, nhưng ít khi được bày tỏ.
Từ Núi Si Nai có những lời sấm sét đến cùng tai chúng ta: “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi.”(Xuất Ế Díp Tô Ký 20:12), và về sau, cũng từ Thượng Đế đó, là lệnh truyền: “Sống với nhau trong tình thương.” (GLGƯ 42:45).
Tuân Theo Bản Thiết Kế của Chúa
Hãy quỳ xuống cầu nguyện. Hãy chấp nhận phục vụ. Hãy tìm đến cứu giúp. Mỗi điều này là một trang thiết yếu của bản thiết kế của Thượng Đế để lập ra một căn nhà và làm một căn nhà thành thiên thượng.
Sự thăng bằng là bí quyết cho chúng ta trong các trách nhiệm thiêng liêng và trang trọng của chúng ta trong nhà mình và trong những sự kêu gọi của mình trong Giáo Hội. Chúng ta phải sử dụng sự khôn ngoan, sự soi dẫn và óc xét đoán hợp lý khi chúng ta chăm sóc gia đình mình và làm tròn những sự kêu gọi của mình trong Giáo Hội, bởi vì mỗi sự kêu gọi đều cực kỳ quan trọng. Chúng ta không thể xao lãng gia đình mình; chúng ta không được xao lãng những chức vụ kêu gọi của mình trong Giáo Hội.
Chúng ta hãy xây dựng với kỹ năng, đừng làm cẩu thả mà phải tuân theo bản thiết kế của Ngài. Rồi Chúa, chính là Đấng thanh tra việc xây cất của chúng ta, có thể phán cùng chúng ta, như Ngài đã phán khi Ngài hiện đến cùng Sa Lô Môn, một người xây cất của thời khác: “Ta đã biệt riêng ra thánh cái đền này mà người đã cất, để cho danh ta ngự tại đó đời đời; mắt và lòng ta sẽ thường ở đó mãi mãi” (1 Các Vua 9:3). Rồi chúng ta sẽ có mái nhà thiên thượng và gia đình vĩnh cửu và sẽ có thể giúp đỡ, củng cố cùng ban phước cho những gia đình khác.
Tôi rất khiêm nhường và chân thành cầu nguyện để phước lành này có thể đến với mỗi người chúng ta. Trong tôn danh của Chúa Giê Su Ky Tô, A Men.
Ghi chú
1. Thư của Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn ngày 11 tháng Hai năm 1999; xin xem Liahona, tháng Mười Hai năm 1999, 1.