The Christus statueThe Church of Jesus Christ of Latter-day Saints Search | Feedback | Site Map | Help | Country Sites |
Home Gospel Library Worldwide Leadership Training Meeting: Supporting the Family Elder David A. Bednar

Hôn Nhân Là Thiết Yếu cho Kế Hoạch Vĩnh Cửu của Ngài

ANH CẢ DAVID A. BEDNAR
Thuộc Nhóm Túc Số Mười Hai Vị Sứ Đồ

ANH CẢ DAVID A. BEDNARLý Tưởng của Hôn Nhân theo Giáo Lý

Chúng ta được Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn khuyên dạy rõ ràng phải dành hết các nỗ lực tốt nhất của mình để củng cố hôn nhân và gia đình. Lời chỉ dẫn như thế chưa bao giờ được cần đến trên thế gian như ngày nay khi sự thiêng liêng của hôn nhân bị tấn công và tầm quan trọng của gia đình bị soi mòn.

Mặc dù Giáo Hội và chương trình của Giáo Hội hỗ trợ hôn nhân và gia đình, và thường thường thành công khi làm như vậy, nhưng chúng ta nên luôn luôn nhớ đến lẽ thật cơ bản này: không có một phương tiện hay tổ chức nào khác có thể thay thế chỗ của gia đình hay làm tròn chức năng trọng yếu của nó. Do đó, hôm nay tôi sẽ nói chuyện với các anh chị em trước hết là những người nam và những người nữ, là những người chồng và những người vợ, và là những người cha và những người mẹ—và kế đến là các vị lãnh đạo chức tư tế và tổ chức bổ trợ trong Giáo Hội. Công việc chỉ định của tôi là thảo luận vai trò thiết yếu của hôn nhân vĩnh cửu trong kế hoạch hạnh phúc của Cha Thiên Thượng.

Chúng ta sẽ tập trung vào lý tưởng của hôn nhân theo giáo lý . Tôi hy vọng rằng một sự xem xét lại các khả năng vĩnh cửu của mình và một sự nhắc nhở về việc chúng ta là ai và tại sao chúng ta hiện diện nơi đây trên trần thế sẽ cung ứng sự hướng dẫn, sự an ủi và niềm hy vọng vững mạnh cho tất cả chúng ta, bất luận tình trạng hôn nhân hoặc hoàn cảnh cá nhân hiện tại của mình. Sự khác biệt giữa lý tưởng của hôn nhân theo giáo lý với sự thật tế của cuộc sống hằng ngày đôi khi dường như khá lớn, nhưng các anh chị em đang dần dần thi hành và trở nên tốt lành hơn là các anh chị em có thể nhận biết được.

Tôi mời các anh chị em hãy ghi nhớ những câu hỏi sau đây khi chúng ta thảo luận các nguyên tắc liên quan đến hôn nhân vĩnh cửu.

Câu hỏi số 1. Trong cuộc sống của chính mình, tôi có đang cố gắng để trở thành một người chồng hay người vợ tốt hơn hoặc chuẩn bị làm chồng hoặc làm vợ, bằng cách hiểu và áp dụng các nguyên tắc cơ bản này không?

Câu hỏi số 2. Với tư cách là người lãnh đạo chức tư tế hoặc tổ chức bổ trợ, tôi có đang giúp đỡ những người tôi phục vụ để hiểu và áp dụng các nguyên tắc cơ bản này, do đó củng cố hôn nhân và gia đình không?

Khi chúng ta thành tâm suy ngẫm những câu hỏi này và cân nhắc mối quan hệ hôn nhân của mình và các trách nhiệm của chúng ta trong Giáo Hội, thì tôi xin làm chứng rằng Thánh Linh của Chúa sẽ soi sáng tâm trí của chúng ta và giảng dạy chúng ta những điều mà chúng ta cần phải làm và cải thiện (xin xem Giăng 14:26).

Tại Sao Hôn Nhân Là Thiết Yếu

Trong “Gia Đình: Bản Tuyên Ngôn cùng Thế Giới,” Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn và Hội Đồng Mười Hai Vị Sứ Đồ tuyên bố “rằng hôn nhân giữa một người nam và một người nữ đã được Thượng Đế quy định sẵn và gia đình là trọng tâm kế hoạch của Đấng Sáng Tạo dành cho số mệnh vĩnh cửu của con cái Ngài.”2 Câu mở đầu này của bản tuyên ngôn dạy chúng ta biết nhiều về ý nghĩa của hôn nhân theo giáo lý và nhấn mạnh đến tầm quan trọng hàng đầu của hôn nhân và gia đình trong kế hoạch của Đức Chúa Cha. Hôn nhân ngay chính là một lệnh truyền và một bước thiết yếu trong tiến trình tạo dựng một mối quan hệ gia đình đằm thắm mà có thể tồn tại sau khi chết.

Hai lý do theo giáo lý có sức thuyết phục mà giúp chúng ta hiểu tại sao hôn nhân vĩnh cửu là thiết yếu đối với kế hoạch của Đức Chúa Cha.

Lý do số 1: Tính chất của các linh hồn nam và nữ thì làm trọn vẹn và hoàn hảo cho nhau và, do đó, người nam và người nữ đã được định là sẽ cùng nhau tiến triển hướng đến sự tôn cao.

Tính chất vĩnh cửu và tầm quan trọng của hôn nhân chỉ có thể được thông hiểu trọn vẹn trong vòng văn cảnh bao quát toàn bộ của kế hoạch của Đức Chúa Cha dành cho con cái của Ngài. “Tất cả nhân loại—nam và nữ—được sáng tạo theo hình ảnh của Thượng Đế. Mỗi người là một đứa con trai hay con gái linh hồn yêu dấu của cha mẹ thiên thượng và có một thiên tính và số mệnh thiêng liêng.”3 Kế hoạch hạnh phúc vĩ đại cho phép những người con trai và những người con gái linh hồn của cha mẹ thiên thượng nhận được một thể xác, đạt được kinh nghiệm trần thế và tiến triển đến sự toàn hảo.

“Phái tính là một đặc điểm cơ bản của từng người cho riêng mục đích về trạng thái tiền dương thế, hữu diệt và vĩnh cửu”4 và trong một phạm vi rộng lớn định rõ chúng ta là ai, tại sao chúng ta hiện diện nơi đây trên thế gian, và chúng ta phải làm gì và trở thành người như thế nào. Vì những mục đích thiêng liêng, các linh hồn nam và nữ đều khác biệt, riêng biệt và bổ sung cho nhau.

Sau khi thế gian được sáng tạo, A Đam được đặt vào Vườn Ê Đen. Tuy nhiên, điều quan trọng là Thượng Đế đã phán rằng việc “người nam sống một mình thì không tốt” (Sáng Thế Ký 2:18; Môi Se 3:18), và Ê Va trở thành người bạn đời và người giúp đỡ của A Đam. Sự phối hợp độc đáo của các khả năng thuộc linh, thể xác, tinh thần và tình cảm của cả hai người nam và người nữ đều cần thiết để thực thi kế hoạch hạnh phúc. Nếu chỉ một mình, thì người nam lẫn người nữ không thể nào hoàn thành các mục đích sáng tạo của mình.

Qua kế hoạch thiêng liêng, người nam và người nữ đã được định là sẽ cùng nhau tiến triển hướng đến sự toàn thiện và vinh quang trọn vẹn. Vì tính khí và khả năng của họ khác biệt nên mỗi người nam và người nữ mang đến mối quan hệ hôn nhân các viễn cảnh và kinh nghiệm độc đáo. Người nam và người nữ đóng góp một cách khác biệt nhưng bình đẳng cho sự hợp nhất và sự đoàn kết mà không thể nào đạt được bằng cách thức nào khác. Người nam làm cho người nữ được trọn vẹn và hoàn hảo, và người nữ làm cho người nam được trọn vẹn và hoàn hảo, khi họ học hỏi từ nhau và củng cố và ban phước cho nhau. “Trong Chúa thì chẳng phải đàn bà ngoại đàn ông, cũng chẳng phải đàn ông ngoại đàn bà (1 Cô Rinh Tô 11:11; chữ nghiêng được thêm vào).

Lý do số 2: Qua kế hoạch thiêng liêng, cả người nam lẫn người nữ được cần đến để mang con cái đến trần thế và cung ứng môi trường tốt nhất để chăm sóc và nuôi dạy con cái.

Giáo lệnh được ban từ thời xưa cho A Đam và Ê Va để sinh sản và làm dẫy đầy mặt đất vẫn còn hiệu lực ngày nay. “Thượng Đế đã truyền lệnh rằng khả năng sinh sản thiêng liêng chỉ được sử dụng giữa người nam và người nữ đã cưới hỏi hợp pháp với tư cách là vợ chồng. Những phương cách mà qua đó cuộc sống hữu diệt được tạo ra [là] do Thượng Đế ấn định.”5 Như vậy, hôn nhân giữa một người nam với người nữ là con đường được cho phép mà qua đó các linh hồn trên tiền dương thế bước vào thế gian. Việc hoàn toàn không liên hệ tình dục trước khi kết hôn và chung thủy trọn vẹn trong vòng hôn nhân bảo vệ sự thánh thiện của con đường thiêng liêng này.

Một gia đình với một người chồng và người vợ đầy lòng yêu thương và trung thành là khung cảnh quan trọng nhất mà trong đó con cái có thể được nuôi nấng trong tình yêu thương và sự ngay chính và trong đó những nhu cầu thuộc linh và vật chất của con cái có thể được đáp ứng. Cũng giống như các đặc tính độc đáo của cả người nam lẫn người nữ đóng góp vào sự trọn vẹn của một mối quan hệ hôn nhân thì cũng các đặc tính đó rất thiết yếu cho sự nuôi nấng, dưỡng dục và dạy dỗ con cái. “Con cái phải được sinh ra trong vòng ràng buộc hôn nhân và được nuôi nấng bởi một người cha và một người mẹ biết tôn trọng những lời thệ ước hôn nhân với lòng chung thủy trọn vẹn.”6

Các Nguyên Tắc Hướng Dẫn

Hai lý do theo giáo lý mà chúng ta đã xem xét về tầm quan trọng của hôn nhân vĩnh cửu trong kế hoạch hạnh phúc của Đức Chúa Cha gợi ý cho các nguyên tắc hướng dẫn những người đang chuẩn bị kết hôn, những người đang kết hôn và sự phục vụ của chúng ta trong Giáo Hội.

Nguyên Tắc số 1. Tầm quan trọng của hôn nhân vĩnh cửu chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh của kế hoạch hạnh phúc của Đức Chúa Cha.

Chúng ta thường nói và làm nổi bật hôn nhân là đơn vị cơ bản của xã hội, là nền móng của một quốc gia hùng cường, và là một định chế xã hội và văn hóa thiết yếu. Nhưng phúc âm phục hồi giúp chúng ta hiểu rằng hôn nhân còn có nhiều ý nghĩa hơn nữa!

Có lẽ chúng ta nói về hôn nhân mà không giảng dạy một cách thích đáng về tầm quan trọng của hôn nhân trong kế hoạch của Đức Chúa Cha chăng? Việc nhấn mạnh về hôn nhân mà không liên kết nó với giáo lý giản dị và cơ bản của kế hoạch hạnh phúc thì không thể cung ứng đủ sự hướng dẫn, sự bảo vệ, hoặc hy vọng trong một thế giới ngày càng hoang mang và tà ác. Tất cả chúng ta nên nhớ đến lời giảng dạy của An Ma—rằng Thượng Đế ban cho con cái loài người các giáo lệnh sau khi đã cho họ biết về kế hoạch cứu chuộc (An Ma 12:32; chữ nghiêng được thêm vào).

Anh Cả Parley P. Pratt bày tỏ một cách tuyệt vời về các phước lành đến với chúng ta khi chúng ta học, hiểu và cố gắng áp dụng trong cuộc sống của chúng ta lý tưởng của hôn nhân theo giáo lý :

“Chính Joseph Smith đã dạy tôi cách thức trân quý mối quan hệ thân tình giữa người cha với người mẹ, người chồng với người vợ, giữa anh chị em, con trai và con gái.

“Chính từ ông mà tôi đã học biết rằng người vợ của lòng tôi có thể thuộc về tôi trong thời tại thế và suốt thời vĩnh cửu, và rằng những mối cảm nghĩ và tình cảm thuần khiết mà làm cho chúng tôi yêu nhau bắt nguồn từ tình yêu thương vĩnh cửu thiêng liêng . . .

“Tôi đã yêu thương trước đây nhưng tôi không biết tại sao. Nhưng giờ đây tôi đã yêu thương—với sự thuần khiết—một cường độ nâng cao, tôn cao về cảm nghĩ mà sẽ nâng linh hồn tôi từ những điều tạm bợ của thế giới nhỏ bé này và nới rộng nó ra thành đại dương. . .Tóm lại, giờ đây tôi có thể yêu thương với tinh thần và cùng với sự hiểu biết.

“Tuy nhiên, vào lúc đó, người anh em yêu quý của tôi, Joseph Smith . . . chỉ mới vén lên một góc màn và cho tôi một thoáng nhìn vào cõi vĩnh cửu.”7

Là những người nam và những người nữ, là những người chồng và những người vợ, và là các vị lãnh đạo Giáo Hội, chúng ta có thể thấy được cách thức mà tầm quan trọng của hôn nhân vĩnh cửu chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh của kế hoạch hạnh phúc của Đức Chúa Cha không? Giáo lý của kế hoạch dẫn dắt những người nam và những người nữ đến hy vọng và chuẩn bị cho hôn nhân vĩnh cửu, và kế hoạch hạnh phúc đó xóa tan những nỗi sợ hãi và khắc phục những tình trạng không biết chắc mà có thể khiến cho một số người trì hoãn hoặc tránh kết hôn. Một sự hiểu biết đúng đắn về kế hoạch cũng củng cố quyết tâm của chúng ta để kiên định tôn trọng giao ước của hôn nhân vĩnh cửu. Sự học hỏi cá nhân, sự giảng dạy, và sự làm chứng của chúng ta trong nhà lẫn tại nhà thờ sẽ được khuyếch đại khi chúng ta suy ngẫm và hiểu biết trọn vẹn hơn về lẽ thật này.

Nguyên tắc số 2. Sa Tan muốn rằng tất cả những người nam và những người nữ có thể bị đau khổ giống như nó.

Lu Xi Phe không ngừng tấn công và bóp méo giáo lý mà có ý nghĩa quan trọng nhất đối với riêng chúng ta, đối với gia đình chúng ta và đối với thế gian. Kẻ nghịch thù đang dồn những sự tấn công trực tiếp và độc ác nhất của nó nơi nào? Sa Tan liên tục cố gắng làm đảo lộn sự hiểu biết về phái tính, đẩy mạnh sự sử dụng sớm và bất chính khả năng sinh sản và cản trở việc kết hôn ngay chính—đúng thế bởi vì hôn nhân được Thượng Đế quy định và gia đình là trọng tâm của kế hoạch hạnh phúc. Những cuộc tấn công của kẻ nghịch thù đối với hôn nhân vĩnh cửu sẽ tiếp tục gia tăng một cách mãnh liệt thường xuyên và tinh vi.

Bởi vì ngày nay chúng ta tham gia trong một trận chiến cho sự an lạc của hôn nhân và gia đình, trong lần đọc Sách Mặc Môn mới nhất của mình, tôi đã đặc biệt chú ý đến những cách thức mà dân Nê Phi đã chuẩn bị cho các trận chiến của họ chống lại dân La Man. Tôi thấy rằng dân Nê Phi “đã biết ý định của [kẻ thù của họ] và do đó, họ đã chuẩn bị để đương đầu với chúng” (An Ma 2:12–13; những chữ nghiêng được thêm vào). Khi đọc và nghiên cứu, tôi học được rằng việc hiểu được ý định của một kẻ thù là điều chính yếu tiên quyết cho sự chuẩn bị hữu hiệu. Tương tự như thế, chúng ta nên cân nhắc ý định của kẻ thù của mình trong cuộc chiến ngày sau này.

Kế hoạch của Đức Chúa Cha là nhằm cung ứng sự hướng dẫn cho con cái của Ngài, để giúp họ trở nên hạnh phúc, và mang họ trở về nhà an toàn với Ngài. Những cuộc tấn công của Lu Xi Phe đối với kế hoạch là nhằm làm cho các con trai và các con gái của Thượng Đế hoang mang và đau khổ và chặn đứng sự tiến triển vĩnh cửu của họ. Ý định bao quát toàn bộ của cha đẻ của sự dối trá là tất cả chúng ta sẽ trở nên “khổ sở như nó” (2 Nê Phi 2:27), và nó cố gắng làm lệch lạc các yếu tố của kế hoạch của Đức Chúa Cha mà nó ghét nhất. Sa Tan không có một thể xác; nó không thể kết hôn; và nó sẽ không có gia đình. Và nó cố gắng liên tục để làm xáo trộn các mục đích thiêng liêng đã được định về phái tính, hôn nhân và gia đình. Trên khắp thế gian, chúng ta thấy dấu hiệu về các nỗ lực hữu hiệu của Sa Tan càng ngày càng gia tăng.

Mới gần đây hơn, quỷ dữ đã cố gắng phối hợp sự lẫn lộn về phái tính với sự lẫn lộn về hôn nhân và rồi làm cho luật pháp thông qua một cách hợp pháp những ý nghĩ sai lầm như vậy. Khi chúng ta nhìn vượt qua cuộc sống trần thế và vào cõi vĩnh cửu, thì dễ để phân biệt rằng những điều giả mạo mà kẻ nghịch thù chủ trương thì không bao giờ có thể dẫn đến sự trọn vẹn mà có thể có được qua lễ gắn bó của một người nam và một người nữ, dẫn đến hạnh phúc của hôn nhân ngay chính, đến niềm vui thịnh vượng, hoặc đến phước lành của sự tiến triển vĩnh cửu.

Dựa vào điều chúng ta biết về ý định của kẻ nghịch thù của mình, mỗi người chúng ta nên đặc biệt thận trọng trong việc tìm kiếm sự soi dẫn cá nhân về cách thức chúng ta có thể bảo vệ và gìn giữ hôn nhân của mình—và cách thức chúng ta có thể học hỏi và giảng dạy các nguyên tắc đúng đắn trong nhà và trong các công việc chỉ định của chúng ta trong Giáo Hội về ý nghĩa vĩnh cửu của phái tính và về vai trò của hôn nhân trong kế hoạch của Đức Chúa Cha.

Nguyên tắc số 3:Các phước lành tối thượng của tình yêu và hạnh phúc đạt được qua mối quan hệ hôn nhân giao ước vĩnh cửu.

Chúa Giê Su Ky Tô là trung tâm điểm trong mối quan hệ hôn nhân giao ước. Xin lưu ý đến cách thức mà Đấng Cứu Rỗi được bố trí đứng trên đỉnh tam giác này, với một người nữ ở một đáy góc và một người nam ở đáy góc kia. Giờ đây hãy cân nhắc điều xảy ra trong mối quan hệ giữa người nam với người nữ khi từng người trong số họ kiên trì “đến cùng Đấng Ky Tô” và cố gắng “toàn thiện trong Ngài” (Mô Rô Ni 10:32). Nhờ và qua Đấng Cứu Chuộc mà người nam và người nữ đến gần với nhau hơn.

Khi một cặp vợ chồng được thu hút đến với Chúa (xin xem 3 Nê Phi 27:14) khi họ học cách phục vụ và trân quý nhau, khi họ chia sẻ những kinh nghiệm về đời sống và cùng tăng trưởng và trở nên một, và khi họ được phước qua sự kết hợp các bản tính riêng biệt của họ, họ bắt đầu nhận thấy sự thành công mà Cha Thiên Thượng mong muốn cho con cái của Ngài. Hạnh phúc tối thượng, chính là mục tiêu của kế hoạch của Cha Thiên Thượng, được tiếp nhận qua việc lập và tôn trọng các giao ước hôn nhân vĩnh cửu.

Là những người nam và những người nữ, là những người chồng và những người vợ, và là những người lãnh đạo Giáo Hội, một trong các trách nhiệm tối quan trọng của chúng ta là giúp các thanh niên và thiếu nữ học và chuẩn bị cho hôn nhân ngay chính qua tấm gương của cá nhân chúng ta. Khi các thanh niên và thiếu nữ quan sát thấy sự xứng đáng, sự trung thành, sự hy sinh và sự tôn trọng các giao ước trong hôn nhân của chúng ta, thì những người trẻ tuổi đó sẽ tìm cách sống theo các nguyên tắc đó trong mối quan hệ hẹn hò và hôn nhân của họ. Khi những người trẻ tuổi thấy rằng chúng ta đã đặt sự an lạc và lợi ích của người bạn đời vĩnh cửu của mình làm ưu tiên cao nhất, thì họ sẽ trở nên kém tự kỷ hơn và có thể ban phát, phục vụ nhiều hơn và tạo ra một tình chăn gối bình đẳng và lâu dài. Khi các thanh niên và thiếu nữ nhận thức được sự kính trọng, lòng yêu mến, sự tin cậy và tình yêu thương lẫn nhau giữa vợ chồng, thì họ sẽ cố gắng trau dồi những đặc tính giống như vậy trong cuộc sống của họ. Con cái của chúng ta và giới trẻ của Giáo Hội sẽ học nhiều nhất từ điều chúng ta làm và về con người của chúng ta—dù là họ nhớ tương đối ít về điều chúng ta nói.

Tiếc thay, ngày nay nhiều tín hữu trẻ tuổi của Giáo Hội e ngại hôn nhân vĩnh cửu và ngần ngại tiến đến hôn nhân vĩnh cửu bởi vì họ đã thấy qua nhiều cuộc ly dị trên thế giới và về các giao ước bị vi phạm trong nhà của họ và trong Giáo Hội.

Hôn nhân vĩnh cửu không phải chỉ là một tờ hợp đồng hợp pháp tạm thời mà có thể bị chấm dứt bất cứ lúc nào vì hầu hết bất cứ lý do gì. Đúng hơn, đó là một giao ước thiêng liêng với Thượng Đế mà có thể ràng buộc trong thời tại thế và suốt thời vĩnh cửu. Sự trung tín và chung thủy trong hôn nhân không phải chỉ là những lời nói hấp dẫn thốt ra trong những bài thuyết giảng; đúng hơn, chúng phải là các nguyên tắc rõ ràng trong các mối quan hệ hôn nhân theo giao ước.

Khi xem xét về tầm quan trọng của tấm gương cá nhân của mình, các anh chị em và tôi có thấy rõ những lãnh vực mà chúng ta cần phải cải tiến không? Đức Thánh Linh có soi dẫn tâm trí chúng ta và xoa dịu lòng chúng ta—và khuyến khích chúng ta làm và trở nên tốt lành hơn không? Là những người lãnh đạo chức tư tế và tổ chức bổ trợ, chúng ta có tập trung các nỗ lực của mình vào việc củng cố hôn nhân và gia đình không?

Vợ chồng cần có thời giờ cho nhau để củng cố lẫn nhau và nhà cửa của họ chống lại những cuộc tấn công của kẻ nghịch thù. Khi cố gắng làm vinh hiển những sự kêu gọi của mình trong Giáo Hội, chúng ta có vô tình cản trở những người chồng, những người vợ, những người mẹ và những người cha không cho họ làm tròn các trách nhiệm thiêng liêng của họ trong nhà không? Ví dụ, đôi khi chúng ta có hoạch định những buổi họp và các buổi sinh hoạt không cần thiết trong một cách thức mà gây trở ngại cho mối quan hệ thiết yếu giữa một người chồng và một người vợ và mối quan hệ của họ với con cái của họ không?

Khi chúng ta thành thật suy ngẫm về những câu hỏi này, tôi tin rằng Thánh Linh ngay cả bây giờ đang giúp đỡ và sẽ tiếp tục giúp mỗi người chúng ta học hỏi những điều mà chúng ta cần phải làm ở nhà và trong Giáo Hội.

Các Tài Nguyên Thuộc Linh mà Chúng Ta Cần

Các trách nhiệm của chúng ta để học hỏi và hiểu giáo lý của kế hoạch, để ủng hộ và nêu gương cho hôn nhân ngay chính, và để giảng dạy các nguyên tắc đúng đắn trong nhà và ở nhà thờ, có thể khiến cho chúng ta tự hỏi là chúng ta có khả năng làm tròn trách nhiệm này không. Chúng ta là những người bình thường mà phải hoàn thành một công việc phi thường nhất.

Cách đây nhiều năm, Chị Bednar và tôi bận rộn cố gắng đáp ứng vô số đòi hỏi khó khăn của một gia đình trẻ và đầy nghị lực—và các trách nhiệm của Giáo Hội, nghề nghiệp, và cộng đồng. Một buổi tối nọ sau khi con cái đã đi ngủ, chúng tôi nói chuyện rất lâu về việc chúng tôi làm tròn tất cả các ưu tiên quan trọng của mình một cách hữu hiệu như thế nào. Chúng tôi nhận thức rằng chúng tôi sẽ không nhận được các phước lành đã được hứa trong thời vĩnh cửu nếu chúng tôi không làm vinh hiển một cách trọn vẹn hơn giao ước mà chúng tôi đã lập trên thế gian. Chúng tôi đã quyết tâm cùng nhau làm và trở nên tốt hơn với tư cách là vợ chồng. Bài học đó đã được học cách đây rất nhiều năm đã làm một sự khác biệt rất lớn trong hôn nhân của chúng tôi.

Giáo lý tuyệt vời và giản dị của kế hoạch hạnh phúc cung ứng viễn ảnh vĩnh cửu quý báu—và giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của hôn nhân vĩnh cửu. Chúng ta được phước với tất cả những nguồn thuộc linh mà chúng ta cần. Chúng ta có giáo lý trọn vẹn của Chúa Giê Su Ky Tô. Chúng ta có Đức Thánh Linh và sự mặc khải. Chúng ta có các giáo lễ cứu rỗi, các giao ước và các đền thờ. Chúng ta có chức tư tế và các vị tiên tri. Chúng ta có thánh thư và quyền năng về lời nói của Thượng Đế. Và chúng ta có Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô.

Tôi làm chứng rằng chúng ta đã được ban phước với tất cả các nguồn thuộc linh mà chúng ta cần để học hỏi, giảng dạy, củng cố và chống giữ hôn nhân ngay chính—và rằng quả thật chúng ta có thể sống chung với nhau trong hạnh phúc với tư cách là vợ chồng và gia đình trong vĩnh cửu. Trong thánh danh của Chúa Giê Su Ky Tô, A Men.

Ghi chú

1. Xin xem thư của Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn ngày 11 tháng Hai năm 1999; xin xem Liahona, tháng Mười Hai năm 1999, 1.

2. “Gia Đình: Bản Tuyên Ngôn cùng Thế Giới,” Liahona, tháng Mười năm 2004, 49.

3. Liahona, tháng Mười năm 2004, 49.

4. Liahona, tháng Mười năm 2004, 49.

5. Liahona, tháng Mười năm 2004, 49.

6. Liahona, tháng Mười năm 2004, 49.

7. Tự truyện của Parley P. Pratt, do Parley P. Pratt Jr. xuất bản (1938), 297–98.

 
© 2008 Intellectual Reserve, Inc. All rights reserved.   Rights and use information.  Privacy policy